Thứ Sáu, 15 tháng 5, 2015

ĐÈN CÙ_TRẦN ĐĨNH (14)


Chương mười bốn 

Đầu 1960, Hoàng Tùng đưa tôi về phụ trách Ban sinh họat đảng cùng Trần Các. Anh muốn tôi coi mảng tuyên truyền mấy sự kiện chính trị trọng đại của năm này. 

Mừng Đảng 30 tuổi, mừng Cụ Hồ 70, mừng 15 năm thành lập nước Việt Nam Dân Chủ Cộng Hòa. Ngoài ba đại khánh còn Đại hội lần thứ ba của Ðảng. 

Tháng 3, Tố Hữu triệu tập mấy người lập nhóm viết tiểu sử Hồ Chí Minh với danh nghĩa Ban nghiên cứu lịch sử đảng. Gồm Tố Hữu, Phạm Bình (Ban nghiên cứu lịch sử đảng), Nguyễn Huy Tưởng, Hoài Thanh và tôi. Hai nhà văn vào tận quê Cụ sưu tầm tài liệu. Phạm Bình cung cấp tài liệu. Tôi viết. 

Cố nhiên cũng sưu tầm cả tài liệu. Hai nhà văn trở ra với nhiều điều giật gân. Cụ sinh năm 1891! Cụ Khiêm, anh trai Cụ nói thế, có bằng chứng hẳn hoi trong gia đình và họ hàng. Báo cáo với Cụ thì Cụ nói của người ta thế nào thì cứ để thế không sửa gì hết. Hai nhà văn và tôi bảo nhau: Bác muốn dân dễ nhớ nên lấy tròn 1890. Vả chăng năm nay đất nước mở đầu xây dựng chủ nghĩa xã hội, tam hỉ đồng niên mới quan trọng, nếu chỉ còn nhị hỉ thì không quý bằng. 

Vũ Kỳ cho tôi mượn “nhật ký” như anh giới thiệu khi trao tôi quyển sổ tay nho nhỏ, trong có những việc anh ghi của mấy năm 1945 - 48 gì đó. Tôi đọc và nhớ hơn cả đoạn Cụ bỏ phiếu lần Tổng tuyển cử đầu tiên bầu Quốc hội đầu tiên ở đơn vị bỏ phiếu Khai Trí Tiến Ðức sáng 6-1-1946, vì tình cờ chính sáng đó, chưa được bầu cử, tôi qua đấy đúng lúc Cụ và hai ba người vừa tới đang sắp leo mấy bậc tam cấp. Nhác thấy một em bé bán báo, Cụ dừng lại hỏi, giọng tần ngần: - Em có đi học chứ? Biết chữ không?... Đó là lần đầu tiên tôi giáp mặt Cụ. Bên Cụ chỉ có hai người, một chắc là Vũ Kỳ, một là bảo vệ.

ĐÈN CÙ_TRẦN ĐĨNH (12-13)


Chương mười hai 

Du học năm năm được những gì? đại, một văn hóa vĩ đại. Được nói một ngôn ngữ nhiều người nói nhất hành tinh. Được một người vợ tôi hết sức yêu rồi tôi làm khổ. Một lần thấy bố mẹ bất hòa, con gái sáu tuổi òa khóc. Tôi bế cháu ra bụi tre sau túp lều tranh lụp sụp làm nhà mà nói: - “Nhà ta có gì không tốt, không hay xảy ra là do lỗi bố. Khi con chưa biết nói, bố đã nhận lỗi với mẹ, tự mình chủ động nhận lỗi với mẹ. Nay con biết khóc chuyện nhà thì bố chủ động nhận lỗi với con...” con gái vừa thút thít nấc vừa gật. Tôi mừng vì như thế là nó có cái lượng khoan dung của mẹ... Người từ phút đầu tiên hát “chàng buông vạt áo em ra...” thì cuối cùng cam đèo bòng với tôi mọi tội mọi nợ, mặc dù bản thân cũng đầy oan trái, thương đau, vạt áo đầy nước mắt. 

Và được là đồng chí đương thời lặng thinh mà đầy thiện cảm, đầy xôn xao cuồng nộ của “phái hữu” Trung Quốc, những người lận đận tù đày hàng chục năm ròng mới mở ra đuợc cánh cửa của Trung Quốc, mới thôi kết thù mà làm bạn tươi tỉnh với thế giới. Nhờ họ, khát vọng tự do, dân chủ thêm được gần gũi và biết và mến phục một dân tộc vĩ đại bền vững trong tôi. Đạo quân mênh mang những nạn nhân vĩ đại ấy dạy tôi trước tiên không được bội bạc nỗi trầm luân của con người. Bức trường lũy đồng loại trần ai nêu lên cho tôi tấm gương dám nhận về mình khổ ải. 

Được đi từ Bắc chí Nam cái đất nước ở đó con gái như ngọc như hoa trong những Đại Quan Viên, những Mái Tây Sương rất sớm biết xăm xăm đi lên đòi dân chủ. Đất nước biết nhờ hạt gạo làm long thuyền chở cả một bài phú đi ngao du bát ngát. Đất nước cần tự diễn đạt đã mượn mu rùa làm bia phát nghĩa. Cần ra khỏi ranh giới bản thân đã chế la bàn. 

Cần giữ bền ranh giới đã tạo máy báo địa chấn. Cần tính tần số vui buồn của nhân sinh đã mượn cát đo thời gian. Đất nước có Hồng Lâu Mộng, Kim Bình Mai, Nhục Bồ Đoàn..., tiểu thuyết đầu bảng tính dục của loài người. Nhà sách Jean Pauvert, Paris dịch in đúng 500 cuốn. Đánh số từ 1 đến 500. 

Các chữ “âm hộ” không dịch. Để nguyên Hán tự in đen. Đen ánh. Các chữ “dương vật” để nguyên Hán tự in đỏ. Đỏ son. Rải rác trong từng trang chữ la tinh đơn tuyến, chúng lập thể nổi lên như núi như gò, đẹp vượt hết mọi hoa văn, họa tiết. 

Những huyệt tử sinh, những mắt triện anh ánh âm dương ngũ hành, những con mắt nhấp nháy xui đồng lõa... Nhưng cuối cùng phải nói sau năm năm du học tôi bắt đầu thấy đuợc một điều khôn lớn nhất: hãy cảnh giác với thần tượng và bỏ thần tượng! Do đó hãy tin trước hết ở lương tri, bản chất mình, gắng là chính mình, chớ nghe sai phái. Do đó dám phê phán, dám lên tiếng và dám chịu đựng... Cái đó nhờ phong trào phái hữu - mà tôi say sưa, sung suớng chứng kiến - phủ nhận chủ nghĩa xã hội, độc quyền lãnh đạo, những mỹ tự có tính bùa phép khiến một lớp người ít ỏi bỗng trở thành thần thánh. Phong trào chống sùng bái cá nhân ở Liên Xô tôi tiếp nhận tại Bắc Kinh. Rồi kế theo là phong trào đòi dân chủ của phái hữu Trung Quốc. Trong ngoài giáp công, có thể nói. 

Cảm ơn… Cảm ơn... Nhưng kìa 

Cổ lai thánh hiền giai tịch mịch 

Bạch vân thiên tải không du du... 

Một hay hai bài đấy nhỉ? Hỏi làm gì? Đều tịch mịch và bạch vân mây trắng vi vu trong trống không cả mà thôi... 

Thứ Năm, 14 tháng 5, 2015

ĐÈN CÙ_TRẦN ĐĨNH (11)


Chương mười một 

Tháng 5 năm 1959, đoàn báo Việt Nam sang thăm Trung Quốc, tôi gia nhập đoàn. Một sáng vào Trung Nam Hải. Trung Quốc “giải phóng” Tây Tạng. Dalai Latma ngồi bò yak trốn sang Ấn Độ, cổ tay đeo chiếc Rolex do Tổng thống Roosevelt tặng, thời cờ năm sao chưa cắm trên đất Lhassa. Phong nhã, đẹp, Chu Ân Lai lên án và giải thích chính nghĩa của Trung Quốc. Đều khách nước ngoài, phần lớn là các “nhà cách mạng” thường trú Bắc Kinh. 

Mãi sau tôi mới hiểu lớp thực khách Xuân Thu Chiến Quốc đời mới này sẵn sàng hô vang khẩu hiệu đại loạn của Bắc Kinh. Ở các hội nghị Á Phi chống xét lại, ở Hà Nội, các chân gỗ không chằng không rễ chuyên đánh trống trận bằng mồm xúi thiên hạ loạn li tơi bời này thuần chỉ có tác dụng thổi ống đu đủ và rồi đều bị quẳng vào sọt rác hết. 

Thình lình Mao hiện ra. Cao lớn, trắng hồng, từ tốn. Đi như khẽ xê dịch, kiểu như biết mình càng chậm thì người ta càng được ngắm nghía và người ta càng thích. Thong thả ngả người ra ghế, một chỏm tóc sau gáy liền vổng ngay đuôi gà, nếp tóc nhờn bết của những người ít tắm gội và nằm là chính. 

Hai bàn tay đặt trên thành ghế thật đẹp. Tôi nghĩ ngay tới các tối chủ nhật, Trung Nam Hải thường đón các cháu nữ sinh Trường Múa đến khiêu vũ cùng chủ tịch. Hồng Linh nói các bạn đi về bảo Chủ tịch thích ôm eo chứ không đỡ lưng.
Mao nói. Ngồi nói. Nói ngọng vì giọng Hồ Nam. N thành L, R thành L. Thí dụ Hội phụ lữ Việt lam lổi lận, - Hội phụ nữ Việt Nam nổi giận. Và s thành x. 

Hôm ấy Mao mở miệng chửi xà - lù (tiếng Pháp: salaud,salopard: đồ đểu - BT) thủ tướng Ấn Độ. Dám cho Dalai Latma đến sống nhờ trên đất Ấn Độ mà không bắt giao nộp Bắc Kinh. 

Thứ Ba, 12 tháng 5, 2015

ĐÈN CÙ_TRẦN ĐĨNH (10)


Chương mười

Hè 1958, tôi đi thực tập ở Thẩm Dương hay Phụng Thiên, Moukhden, kinh đô gốc của tộc Mãn và cũng là kinh đô vua bù nhìn Phổ Nghi thời Nhật. Cơ địa công nghiệp nặng từ thời Nhật, nó đang được Liên Xô giúp xây dựng nhiều nhà máy rất hiện đại. Tôi đến phỏng vấn nhiều nhà máy (cơ khí, điện cơ, gang thép, săm lốp xe tải…, nhà máy chế tạo thiết bị điện, dây điện thật sự nằm trên một nhà máy đồ sộ thứ hai nữa ở ngầm dưới đất phục dịch nó... 

Hôm đầu tôi xuống nhà máy, một chị biên tập viên của Thẩm Dương nhật báo dẫn đi. Chị rất u uẩn, tuy cố giữ vẻ bình thường truớc mặt người nước ngoài là tôi. Tôi dần hiểu. 

Chồng chị, một trưởng ban của báo đã bị bắt đi cải tạo. Anh “dung túng cho phái hữu chống đảng”. “Tôi nghiêm chỉnh tổ chức và động viên quần chúng thiêu đảng là làm theo nghị quyết đảng,” - anh nói.” Thế đảng bảo anh lật đổ đảng anh cũng lật sao?” - đảng kết luận. Và anh đi đâu vợ anh lúc ấy vẫn chưa biết. Tất cả các trưởng ban của báo này và nhiều cây bút khác đã bị như chồng chị. Những con tốt đảng thí trong ván cờ tìm cỏ độc, rắn độc... 

Không hiểu sao tôi cứ thấy như có lỗi với chị biên tập viên dẫn đường. Tôi biết bi kịch của chị mà không dám một lời an ủi. Tôi đã buộc chị phải chui ra khỏi con kén nó che chở nỗi côi cút kinh hoàng của chị để nói lên những lời nhạt nhẽo với guo ji you ren, - quốc tế hữu nhân, bạn bè thế giới... Bạn bè thế giới thì mang lại được gì cho chị? Đám đã đến đây thực tập thì chắc cũng một giọ thừa sức bày mưu tống giam đồng chí.

Nhưng chồng chị và chị cũng cộng sản mà? Nghĩ lắm nhức đầu, tôi chọn mũ ni che tai, coi như không có chị… Rất lạ là sau sự kiện vạch tội bạo chúa Stalin rồi nay bạo chúa Mao kinh hoàng đến thế mà tôi vẫn một niềm tin chủ nghĩa! 

ĐÈN CÙ_TRẦN ĐĨNH (9)


Chương chín 

Một sáng Nhân Dân nhật báo ra xã luận: Đến lúc rồi! shi shi hou le! Lúc gì? Lúc trấn áp, nghiền nát, đập tan bọn “hữu phái” đang điên cuồng chống phá Đảng cộng sản, mưu mô đưa Trung Quốc quay ngược trở lại con đường tư bản phản động. 

Dài hơn gấp ba, xã luận hôm sau mới nói rõ hết đầu đuôi. Phái hữu đã lợi dụng thiện chí chỉnh đảng, trăm hoa đua nở, trăm nhà đua tiếng của đảng để lật đổ đảng. Chúng là lũ rắn độc, cỏ dại. Chúng nói đảng bày mưu lừa người. 

Đúng! Mưu thật. Nhưng không phải âm mưu mà là dương mưu vì mưu này bảo vệ chủ nghĩa xã hội. Không có mưu sao nhử được rắn độc, cỏ dại chui ra, ngóc lên mà tiêu diệt chúng chứ? 

Đảng để tỷ lệ 5 % đảng viên là phái hữu. Họ là những người lãnh đạo đã chấp hành nghị quyết chỉnh đảng mà cho mở báo chữ to, diễn đàn dân chủ để “thiêu đảng.” 

Họ là những người đã bắt đầu do dự thì giật mình thấy Trần Kỳ Thông bị kỷ luật giáng cấp vì dội nước lạnh vào tinh thần đấu tranh của quần chúng cho nên lại vội ra sức lãnh đạo quần chúng đẩy mạnh thiêu đảng lên một nấc nữa.
Hàng triệu người đã bị chết, tù, lầm than trong cuộc đàn áp. Biết bao gia đình tan nát. Sóng thần nổi lên dữ dội trong giới văn học nghệ thuật. Điêu linh những Ngãi Thanh, nhà thơ theo trường phái Apollinaire với tập thơ “Đuốc” cùng thời “Nữ thần” của Quách Mạt Nhược, Đinh Linh, Phùng Tuyết Phong, Ngô Tổ Quang...

Một chuyện làm xúc động và kính phục: Tân Phụng Hà, nghệ sĩ lớn Bình kịch, ngang tầm với những Mai Lan Phương bậc nhất Kinh kịch và Hồng Tuyến N, bậc nhất viết kịch tuyên bố từ bỏ hết các danh hiệu đảng đã khoác lên bà như đại biểu Quốc hội..., từ bỏ hết để cam chịu cùng tội hữu phái với chồng bà, nhà lý luận sân khấu lớn Ngô Tổ Quang. (Nhưng một tài liệu sau này tôi đọc lại nói Trương Khiếm, người đóng Hồ Điệp phu nhân trong vở ca kịch cùng tên lừng tiếng là vợ Ngô Tổ Quang.) 

ĐÈN CÙ_TRẦN ĐĨNH (8)


Chương tám 

Mồng tám Tết Bính Dậu 1957, mấy anh và tôi về nước họp Đại hội Văn nghệ. Đến biên giới chợt thấy rặng núi quan san thấp nhỏ, còi cọc. Đoàn tàu của ta như đoàn tàu sân chơi vườn trẻ. Cái gì cũng cằn bé, sơ sác. Người dưng dưng một cảm giác vui buồn lẫn lộn. Quá mạn Sỏi, Mẹt thì thêm lo âu vơ vẩn. Một người trong đoàn phiên dịch đi cùng xe chợt đến ngồi bên thăm hỏi. Hỏi đến Hồng Linh. Tôi nói biết. Anh ta liền trở nên bí ẩn pha tí hí hửng: - Bố là đặc vụ bị ta giết, anh bíết không? Lim, ty công an bổ búa vào đầu đấy... 

Nhát búa của anh này làm cho tôi ghê một thì cũng làm cho tôi ghét anh ta hai. Cái miệng con người ta sao có thể bố cáo vung lên những nỗi đau của người khác dễ và vui như thế. Tôi bắt đầu coi cái chết của bố Linh cũng là thảm kịch của mình. Khả năng Ðảng bắt tôi cắt quan hệ với Linh thỉnh thoảng lại nổi lên. 

Đến Hà Nội, về nhà Trần Châu, vẫn làm ở Việt Nam thông tấn xã. Một buồng ba chục mét vuông phanh đôi, nửa bên phải của Vũ Khiêu, nửa bên trái của vợ chồng Trần Châu. 

Cách nhau một ván gỗ dán cao chừng hai mét. Lúc cơ sở vật chất chưa báo trước hai người sẽ là hai ngả trái nghịch: Châu chống đảng, lật đổ; Vũ Khiêu ca ngợi đảng, bảo vệ chế độ. 

Trong nhà Châu, một bộ ván ngựa cũ kê trên hai niễng gỗ gầy mảnh tạo thành vật đựng duy nhất trong nội thất: đựng người ngủ, đựng mâm đũa khi ăn, đựng khách khứa, đựng quần áo chăn màn, sách báo khi không dùng đến. v. v, tóm lại rất vạn năng. Tối tối, đứa bé lớn lên ba phụng phịu vần gối xuống “kềnh cang nào kềnh cang” ngang dưới chân giường - chiều dọc giường dành cho bố mẹ và đứa em bé mới đẻ. Với nó, ngủ một mình buồn như lính thú lưu đồn. 

ĐÈN CÙ_TRẦN ĐĨNH (7)


Chương bảy 

Bốn ngày đêm ngược Trung Hoa. Lụt Hồ Nam, Vũ Hán, phải đi ngả Hàng Châu, Giang Tô, Giang Tây. Những dòng sông trong xanh mà nhìn vào bờ vẫn ngỡ thấy các hòn đá Tây Thi giặt lụa. Đỗ ở Hàng Châu, tôi cứ muốn biết thời xưa chỗ đầu tàu phì phò lấy nước này có là một tửu lâu không và Tô Đông Pha có la cà tới đó? Phà chở một lúc mấy toa xe lửa vượt Dương Tử mênh mông sóng lớn cho tôi thấy cái hơi thở sâu trầm của công nghiệp. Khói nhà máy Thượng Hải từ xa đã biến thành phố này ra thành một dẫy cô đảo chập chờn. 

Đến Bắc Kinh đại học hình như đúng đêm 19 tháng 8. Chân chợt rón rén khi vào khu Lục Viện, túc xá trước kia của Yên Kinh đại học, Yenching - Harvard, một nhánh của Harvard. Vàng son, chạm trổ, mùi vị vuơng phủ... 

Tất cả lưu học sinh học tiếng Trung Quốc một năm ở Bắc Kinh đại học rồi sẽ chia đi các trường chuyên nghiệp hay đại học khác. Đám báo chí lẽ ra sang Tiệp học theo giúp đỡ của OIJ (Hội nhà báo quốc tế, do Liên Xô đỡ đầu), nhưng Phạm Văn Đồng ở Genève về qua Bắc Kinh đã chỉ thị các ngành văn hoá báo chí, sử, nghệ thuật đều học tại Trung Quốc vì Trung Quốc gần với Việt Nam hơn. Nhờ thủ tướng trọng chữ Ðồng mà tôi và Linh thành tương thân chứ nếu thủ tướng tên Dị thì có lẽ đã sang một nẻo khác.